Thứ Sáu, 18 tháng 7, 2014

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ I-ỐT


Những lợi ích sức khỏe của iốt đang đi rất xa. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, tình trạng thiếu iốt đang tăng ở Mỹ. Thiếu hụt nghiêm trọng có thể dẫn đến tổn thương não. Hơn một phần ba dân số thế giới (2,5 tỷ người) đang sống trên đất trồng cây thiếu iốt dẫn đến 72% dân số toàn cầu thiếu iốt.
Kiểm tra tình trạng thiếu hay đủ iốt trong cơ thể
Rất đơn giản. Lấy 1 giọt i-ốt nhỏ lên da, rồi bôi nhòe chung quanh cho rộng khoảng 2 cm. Nếu màu đỏ của i-ốt biến mất trong 1 giờ thì bạn thiếu trầm trọng, trong 1 ngày thì bạn thiếu i-ốt ở mức độ nào đó.
Cách dùng iốt:
Uống: 2 giọt dầu i ốt mỗi ngày.
Thoa ngoài da: Iốt sẽ thẩm thấu qua da vào trong cơ thể và đến nơi cần thiết. Nhớ là mỗi lần thoa lên da chỗ khác nhau.
Thực phẩm chứa iốt:
Hãy nhớ là thực phẩm có chứa chất khoáng chỉ khi trong đất trồng có chất khoáng đó. Thông thường, đồ biển chứa nhiều iốt nhất, kế đó là thịt và rau quả. Tuy nhiên đồ biển thường có thủy ngân nên hãy thận trọng. Cơ thể không dự trữ iốt nên chúng ta phải uống một chút hàng ngày. Một chút thôi, nhưng chúng ta có thể hưởng nhờ nhiều lợi ích cho sức khỏe của iốt.
19 loại thực phẩm chứa nhiều iốt: gạo lức, rong biển, tảo bẹ,  miso,  bí ngô, tảo xoắn (spirulina), phấn ong, lá mạ lúa mì, cây mê điệt (rosemary), tảo xanh (blue-green algae), củ cải đường (beet), tỏi, gừng, cỏ linh lăng mầm (alfalfa sprouts), bông cải xanh (broccoli).
Chức năng quan trọng của iốt:
1 ) Iốt giúp tổng hợp hormone tuyến giáp và ngăn chặn cả hai bệnh cường giáp trạng và thiểu giáp trạng.
2) Đầy đủ iốt đảo ngược tình trạng của cả hai bệnh cường giáp trạng và thiểu giáp trạng.
3) Iốt hỗ trợ quá trình tế bào tự hủy (apoptosis).
4) Iốt kích hoạt thụ thể nội tiết tố và giúp ngăn ngừa một số dạng ung thư.
5) Iốt bảo vệ chức năng ATP (thể hạt sợi) và tăng cường sản xuất ATP.
6) Iốt ngăn ngừa xơ nang tuyến vú.
7) Iốt làm giảm nhu cầu insulin trong bệnh nhân tiểu đường.
8) Iốt giúp tổng hợp protein.
9) Thiếu hụt Iốt là một mối đe dọa sức khỏe trên toàn cầu.
10) Iốt tiêu diệt tác nhân gây bệnh, nấm mốc, nấm, ký sinh trùng, và bệnh sốt rét.
11) Iốt hỗ trợ chức năng miễn dịch.
12) Iốt loại bỏ halogen (thủy ngân, fluoride, chlorine, phóng xạ I- 131 …) độc hại ra khỏi cơ thể.
13) Iốt điều chỉnh sự sản xuất estrogen trong buồng trứng.
14) Iốt làm giảm chất nhầy.
15) Iốt trung hòa các ion hydroxyl ( OH – ) và dưỡng ẩm cho các tế bào.
16) Iốt làm cho chúng ta thông minh hơn.
17) Iốt ngăn ngừa bệnh tim.
18) Iốt cần thiết cho việc sử dụng điện thoại không dây, điện thoại di động và ngăn chặn bệnh suy tuyến giáp.
19) Iốt hỗ trợ phụ nữ mang thai ( khi bào thai trải qua quá trình tự hủy (apoptosis) nhiều hơn bất kỳ giai đoạn phát triển khác ).
20) Liều cao iốt có thể được sử dụng để đảo ngược một số bệnh.
21) Liều cao iốt có thể được sử dụng cho các vết thương, lở loét do nằm liệt giường, viêm và đau nhức do chấn thương, và giúp tóc mọc lại khi bôi tại chỗ.
22) Iốt giúp trong việc giảm bớt sẹo mô, ngừa sẹo lồi.
23) Iốt hỗ trợ sự phát triển tinh thần.
Trên đây là những lý do để uống liều iốt cao. Với phóng xạ iốt từ Fukushima ở Nhật đang lan rộng thì việc bổ sung iốt bây giờ thành quan trọng, đặc biệt đối với thai nhi và trẻ nhỏ.
Vì Iốt diệt hầu hết virút, vi khuẩn, nấm nên một trong các công dụng quan trọng nhất của iốt là kháng sinh mà những loại virút mạnh nhất cũng không đề kháng lại được. Iốt chắc chắn mạnh mẽ để dùng phòng ngửa và chữa trị ung thư vú, ngoài ra mọi dạng thức ung thư khác sẽ được giảm thiểu.
Chế độ ăn uống
Đã đến lúc nên ngưng ăn tất cả những thực phẩm tẩy trắng như gạo trắng, bánh mì trắng, đường trắng, mì sợi làm bằng bột trắng và muối trắng. Những thực phẩm có màu trắng vì chúng đã bị lấy hết các chất khoáng cần thiết mà chúng ta rất cần để giúp tẩy độc. Sống trong môi trường nhiễm phóng xạ tăng cao, chúng ta cần các chất khoáng bị mất đi đó hơn bao giờ hết.
Một số tế bào miễn nhiễm mất sáu tháng để tái tạo, bạn không thể chờ 6 tháng để biết kết quả khi đang bệnh nặng. Nhưng thường thì bạn có thể thấy kết quả khả quan trong hai tuần đầu tiên với một chế độ ăn uống thích hợp, ngay cả khi bạn không có giờ để thực hành các liệu pháp tẩy lọc khác.
Tỏi và hành tây, là loại thực phẩm chứa sulfur, giúp kết dính và làm ngưng hoạt động của các phóng xạ và kim loại độc hại như cadmium, chì và thủy ngân. Sulfur sẽ giúp thận và gan giải độc cho cơ thể. Thật quan trọng để cho thực phẩm không bị nhiễm phóng xạ. Nếu bạn ăn thực phẩm bị nhiễm phóng xạ thì cần phải loại trừ chúng ra khỏi cơ thể ngay lập tức.
Tôi đọc bản tóm tắt này của chế độ ăn uống :
Khi đồng vị phóng xạ được phát hiện trong nước mưa ở Minnesota và các quốc gia khác, nhiều người đang tìm thuốc bổ sung iốt và những cách khác để bảo vệ sức khỏe lâu dài của gia đình họ.
Hai thực phẩm rong biển và tảo bẹ sẽ giúp bảo vệ tuyến giáp khỏi phóng xạ. Chỉ bảo vệ được tuyến giáp khi có đầy đủ đầy đủ iốt. Việc này cần đến thuốc bổ sung iốt liều mạnh.
Giả sử nhà máy nguyên tử bị nổ, có thể gây ra làm mây phóng xạ, Chúng ta cần uống bao nhiêu iốt để bảo đảm cho cơ thể không nhiễm phóng xạ? Chưa có thử nghiệm thì không thể nói liều lượng hoàn hảo cho mọi người. Tuy nhiên, tôi đề nghi người lớn uống 12-14 mg/ngày.
Liều lượng này sẽ ngăn chặn gần 95% chất phóng xạ. Trẻ em sẽ cần một lượng nhỏ hơn. Quy tắc chung cho trẻ em là 0,08 mg / pound trọng lượng cơ thể. Trẻ sơ sinh bú sữa mẹ không cần phải bổ sung iốt nếu người mẹ có đủ iốt.
Để duy trì, tôi đề nghị bạn dùng dầu i ốt 2 giọt mỗi ngày (12,5 mg)
Muối ăn, muối trắng tinh luyện (table salt), cho dù có là muối biển hay không, là độc tố – Nó là chất độc hại và góp phần lớn khởi đầu cho nhiều căn bệnh nặng bao gồm rối loạn chức năng tuyến giáp và trao đổi chất.
Iốt không những cần thiết cho việc sản xuất hormone tuyến giáp, mà còn cho tất cả các kích tố khác trong cơ thể nữa.
- Tiến sĩ David Brownstein
Iốt có khả năng tẩy trừ thủy ngân, nhưng đa số chúng ta lại không có đủ lượng iốt cần thiết cho tuyến giáp hoạt động đúng mức và bảo vệ chúng ta khỏi ảnh hưởng nguy hại từ thủy ngân, fluoride, chlorine, … Các chất nguy hại này hình thành các loại axit rất mạnh trong cơ thể.
Iốt cùng với các chất béo thiết yếu phù hợp và vitamin bổ sung sẽ sửa chữa bất kỳ vấn đề tuyến giáp nào.
- Tiến sĩ H. Duffy Sr
Iốt luôn luôn là một phần không thể thiếu của y học cơ bản. Các bệnh viện và phòng khám không thể thiếu iốt được.
Việc sử dụng iốt trong y học không phải là thuốc thay thế. Iốt chính là thuốc và rất mạnh. Iốt không điều trị triệu chứng mà trị tận gốc bệnh. Iốt không gây vấn đề cho con người mà là chữa trị cho họ. Iốt hoàn toàn cần thiết cho sức khỏe và sự phát triển của con người.
Iốt không phải là thuốc chữa lành mọi bệnh, nhưng nó là trụ cột trung tâm cho các loại thuốc thành công khác tựa vào. Các bà mẹ sẽ trân trọng Iốt vì nó có thể cứu con của bà khi mà thuốc trụ sinh không cứu được. Iốt nên được dùng trong mọi điều trị bệnh ung thư cùng với Nigari. Hai loại này là hai cột trụ chính trong dạng thuốc rất an toàn, hiệu quả và gía cả phải chăng.
Lưu ý và thận trọng: Iốt là thuốc rất mạnh. Iốt có nhiều loại khác nhau với nồng độ khác nhau (2%, 5%, 7%) cho các sử dụng khác nhau.
Một số ít người bị dị ứng với iốt nhưng thường là do dùng không đúng loại.( theo một số nghiên cứu thì là do chế độ ăn uống nghèo dinh dưỡng – tham khảo các bài viết khác trên trang web của chúng tôi để rõ hơn thông tin) Khi sử dụng iốt thẩm thấu qua da, cần phải theo dõi phản ứng của da. Nascent iốt (2%) là loại an toàn cho em bé ngay cả ở liều cao hơn liều ghi trong hướng dẫn ở nhãn bì cho người lớn. Khi các con tôi bị bệnh, việc đầu tiên là tôi cho dùng iốt. Là người cha và là bác sĩ, tôi cảm thấy an toàn hơn rất nhiều khi có iốt trong tầm tay mọi lúc. Vấn đề ở đây là bạn cần phải biết về iốt để sử dụng nó và biết iốt luôn luôn tốt.
Điều đầu tiên xảy ra cho một phụ nữ khi cô thiếu iốt là cơ quan sinh sản gặp vấn đề : biến dạng vú, và tình trạng vôi hóa nói chung. Tiến sĩ David Derry nói, “thuốc Iốt được chuyên sử dụng trong y khoa trong 200 năm. Một giọt (6,5 mg) I ốt hàng ngày pha  trong nước lọc, nước cam hoặc sữa sẽ dần dần loại trừ u xơ vú trước khi bắt đầu tiến tới ung thư, như vậy iốt giúp ngăn ngừa bệnh ung thư, sẽ không để nó xảy ra.
Iốt cũng sẽ giết chết tế bào bất thường ở các vị trí khác với vị trí của ung thư gốc, ngăn chặn sự di căn. Tất nhiên phương pháp này cũng hữu hiệu đối với trường hợp ung thư tuyến tiền liệt vì ung thư tuyên tiền liệt thì tương tự như ung thư vú trong nhiều khía cạnh.
Thực sự, iốt  có thể giúp cho hầu hết các bệnh ung thư. Liều iốt cao cần thiết cho trường hợp viêm ở ung thư vú.
Dr. Brownstein trong nghiên cứu thấy rằng với liều iốt cao sẽ làm các u nang ở buồng trứng nhỏ dần đi cho tới lúc biến mất.
Để chế ngự ung thứ vú và các bệnh u xơ thì cần 20 tới 40 lần liều lượng iốt so với việc dùng phòng ngừa bướu cổ.
Iốt là một trong những khoáng chất thiếu hụt nhất trong cơ thể chúng ta. Iốt cần thiết cho sự tổng hợp hormon tuyến giáp, nhưng nó cần selenium cho việc chuyển đổi của thyroxine (T4) sang triiodothyronine (T3).
Hormon tuyến giáp cần thiết để giúp mỗi tế bào trong mỗi mô và cơ quan làm việc đúng chức năng. Ví dụ, hormone tuyến giáp giúp cơ thể sử dụng năng lượng, giữ ấm, và giữ cho não, tim, cơ bắp, và các cơ quan khác hoạt động bình thường.
Iốt cần thiết với số lượng microgram cho tuyến giáp, mg số cho tuyến vú và các mô khác, và có thể được sử dụng trong điều trị với số lượng gram – Tiến sĩ David Miller
Khi bệnh nhân dùng giữa ​​12,5 và 50 mg iốt mỗi ngày, dường như là cơ thể trở nên ngày càng đáp ứng tốt hơn các hormon tuyến giáp.
Ron, chồng tôi, bị một đốm nhiễm trùng nhỏ ở móng tay. Nó nhanh chóng trở nên trầm trọng, sưng to mà bác sĩ đồng ý nó giống như gút. Ba tuần sau bác sĩ hốt hoảng nói chồng tôi bị nhiễm trùng máu. Bác sĩ giải phẫu đề nghị cắt bỏ ngón tay vì nó đã tệ lắm rồi. Nhưng chúng tôi muốn thử iốt của Nascent trước và order được gởi gấp ngay. (Ron từ chối dùng thuốc trụ sinh.) Ron bắt đầu bằng liều mạnh 15 giọt trong lúc tiếp tục liệu pháp thoa dầu magnesium cơ thể. Hai ngày sau ngón tay bắt đầu được tái tạo lại. Ngày thứ ba giảm sưng và móng tay có màu hồng trở lại.
Trong vòng mấy ngày sự tiến triển rất nhanh mà không cần trị liệu nào khác ngoài iốt và magnesium. Chúng tôi có làm thuốc đắp dùng comfrey, mật ong và tỏi trong vài ngày, kế đó đắp dầu mỡ goldenseal có vài giọt iốt trong đó.
Cứ mỗi 17 phút thì từng giọt máu trong cơ thể chảy qua tuyến giáp trạng. Nếu tuyến giáp trạng có đủ nguồn iốt thì nó sẽ diệt hết các vi khuẩn và virút trong máu đi ngang qua tuyến giáp. Chúng ta hãy quan tâm đến việc sao cho cơ thể có đủ lượng iốt cần thiết để phòng ngừa bệnh và khỏe mạnh.

Thứ Bảy, 12 tháng 7, 2014

Bệnh vú Fibrocystic(FDB), ung thư vú, I-ốt, Apoptosis


Bệnh vú Fibrocystic là một tình trạng gọi là "lành tính" và "phổ biến" của y học chính thống. Vâng, đó là phổ biến (90% phụ nữ Mỹ bị), nhưng nó chắc chắn không lành tính. Những thay đổi mô bệnh vú fibrocystic hoàn toàn có thể là một tiền thân của ung thư vú, trong đó, BTW, 1 trong 7 phụ nữ Mỹ có bây giờ: (BTW, những cô gái khác, nếu bạn bị đau vú theo chu kỳ, bạn có FBD. Nếu bạn KHÔNG có đau vú theo chu kỳ bạn có thể có FBD. Phát hiện sớm FBD chỉ bằng sử dụng kính hiển vi. 90%, nữ .... 
Tình trạng này rất thường thấy ở ngực, nó được cho là một biến thể bình thường. Các điều khoản khác có liên quan bao gồm "loạn sản vú", "bệnh vú lành tính," và "khuếch tán mastopathy nang." 
Một biến thể BÌNH THƯỜNG!!?? (Yup, đó là những gì tôi nghĩ, quá) 
"Bệnh vú Fibrocystic, đó là lành tính và không ung thư, làm tăng nguy cơ ung thư vú. Càng thay đổi trong mô càng nguy cơ cao hơn, gần như tăng gấp đôi cho những thay đổi tăng sinh và nguy cơ bốn lần tăng cho tăng sản không điển hình."
Tôi thực sự cảm thấy như thể tôi là cũng trên đường đến bệnh ung thư vú ... 



"Bệnh vú Fibrocystic lớn hay nhỏ, đôi khi u đau đớn trong ngực của phụ nữ. Nó thay đổi theo cách nó cho thấy-không chỉ ở phụ nữ khác nhau, mà còn vì nó thay đổi từ tháng qua tháng trong những người phụ nữ như vậy. Bác sĩ y khoa nói chung tin rằng kết quả bệnh fibrocystic là từ số lượng dư thừa của các tế bào phát triển ở vú trong chu kỳ kinh nguyệt từ sự kích thích nội tiết tố. 
"Kể từ khi số lượng tế bào tăng ở vú trong chu kỳ, một số tế bào phải được loại bỏ để khôi phục lại trạng thái bình thường mỗi tháng. Iốt là cơ chế kích hoạt các tế bào dư thừa gây ra biến mất để hoàn tất quá trình bình thường của tế bào chết. Nếu không có đủ i-ốt, các tế bào phát triển thêm trong chu kỳ kinh nguyệt do sự kích thích nội tiết tố khó trở lại với kiến trúc vú bình thường. Những tế bào còn sót lại xây dựng lên theo chu kỳ lặp đi lặp lại và gây ra các cục u, đau nhức, và tổn thương lớn hơn của bệnh fibrocystic.
"Tuy nhiên, trong khi khoảng 90 phần trăm phụ nữ Bắc Mỹ có bệnh fibrocystic, khoảng 40 phần trăm của những người phụ nữ trải nghiệm không có triệu chứng. Ngực của họ có thể bình thường để kiểm tra, nhưng bệnh chỉ kính hiển vi có thể phát hiện với một sinh thiết.
"Đủ iốt cho phép các tế bào dư thừa được giải phóng ra, và vú có thể trở về trạng thái nghỉ ngơi bình thường của nó và bệnh fibrocystic từ từ biến mất khỏi vú.
"Bệnh Fibrocystic qua nhiều thập kỷ của sự kích thích nội tiết tố cuối cùng có xu hướng gây ra một số tế bào để thay đổi thành các tế bào ung thư. Thiếu iốt gây bệnh fibrocystic, vì vậy phụ nữ bị bệnh fibrocystic dễ bị ung thư vú. Mặc dù vết sẹo vú từ rò rỉ chất lỏng ra khỏi u nang thường vĩnh viễn, i-ốt cho trị liệu trong các liều đúng dần dần được thoát khỏi tất cả các bệnh fibrocystic trừ những vết sẹo.
"Bao nhiêu i-ốt là đủ? Nó đã được chỉ ra rằng liều hàng ngày của i-ốt trên 2-3 mg mỗi ngày bão hòa tuyến giáp trong vòng một vài tuần. Tại thời điểm này, điểm dừng của tuyến giáp chiếm iốt. Điều này có nghĩa rằng tại một chế độ ăn uống trên 2-3 mg, tất cả các i-ốt đi vào tất cả các chức năng khác của nó trong cơ thể, chẳng hạn như giết chết tế bào bất thường. "
"I-ốt vẫn là chất khử trùng hoàn hảo ảnh hưởng nhất của mọi thời đại. Là một chất khử trùng giết tất cả các sinh vật đơn bào hoàn hảo , đó có phải là một cơ chế chung của một yếu tố duy nhất như i-ốt. Trong thực tế, phản ứng của i-ốt với phá hủy tyrosine protein và do đó các tế bào của chính nó. Nếu trong động vật có xương sống và các sinh vật đa bào, phân tử tyrosine là ẩn từ bề mặt khi nó thường được hoạt động, i-ốt sẽ không kích hoạt bất kỳ quá trình apoptosis. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển không bình thường, nó có thể là tyrosine hoặc phân tử histidine đang dần dần tiếp xúc với bề mặt. iốt ngoại bào tắm các tế bào sau đó có thể kích hoạt các cơ chế tự hủy.
"Giai đoạn thứ hai của bệnh ung thư lây lan liên quan đến hormone tuyến giáp gián tiếp. Rào cản mô liên kết và chức năng kiểm soát và củng cố bởi mức độ đầy đủ của liên kết hormon tuyến giáp mô. Vì vậy hormone tuyến giáp kiểm soát hàng rào mô liên kết, và ngăn ngừa sự lây lan của tế bào ung thư.
"Iodine với liều lượng thích hợp ngăn ngừa sự phát triển của tế bào ung thư, và đầy đủ hormone tuyến giáp trong các mô liên kết ngăn chặn sự lây lan."
"Tôi muốn nói với bạn những suy nghĩ của tôi về ung thư vú và bệnh tuyến giáp trong một hình thức viết tắt. Ung thư vú mất khoảng 20-30 năm để phát triển. Các khối u được phát hiện đại diện cho giai đoạn cuối của bệnh ung thư chậm hơn thập kỷ qua. Thời gian dài nhất là Giai đoạn đầu của sự phát triển ung thư. Giai đoạn này thường được gọi là tiền ung thư sẽ xảy ra như là một tế bào bình thường đang dần trở thành một tế bào ung thư. Các tổn thương tiền ung thư được gọi là bệnh fibrocystic (sần, ngực mềm) của vú. Hầu hết bệnh fibrocystic là lành tính, vô hại và không có hậu quả.
"Mặt khác, một số hình thức cao hơn của bệnh fibrocystic đã xác định rõ xu hướng hướng tới ung thư vú. Vì vậy, có lớp của bệnh fibrocystic với một số tế bào tìm kiếm nhiều hơn bất thường so với các hình thức ôn hòa. Sự khác nhau trong các tế bào từ bình thường (bất thường) có cơ hội lớn hơn của các tế bào này chuyển đổi sang một tế bào ung thư hơn 10-20 năm. Vì vậy, nếu bạn có bệnh fibrocystic vẫn ở tuổi 45-55, bạn có thể đã có điều này trong nhiều năm. Có thể sau đó cơ hội các tế bào có thể thay đổi thành một tế bào ung thư. Các tin tốt là nó có thể được xoá sổ hoàn toàn với một lượng hàng ngày của i-ốt. "
"Nếu đó là sự thật đã có sự sụt giảm chung trong lượng muối và lượng i-ốt do đó từ những năm 1950, có cần phải có được một sự gia tăng chung về số lượng phụ nữ có fibrocystic (sần) bệnh của vú. Nhưng nếu lượng iốt thấp hơn đang diễn ra trong dân số nữ, các hình thức tồi tệ hơn của bệnh fibrocystic sẽ xảy ra được thống kê liên quan trực tiếp đến bệnh ung thư vú. Các cơ hội bị ung thư vú sau đó đi lên đáng kể. Bây giờ nếu chúng ta đặt này cùng với tỷ lệ mắc bệnh ung thư vú sẽ từ 1 trong 23 trong giữa thập niên 1960 đến 1 trong 8 hiện sau đó nó có vẻ phù hợp với nhau. Trong 80 năm qua hàng trăm ấn phẩm đã khẳng định mối tương quan thống kê giữa các hình thức tồi tệ hơn của bệnh fibrocystic của vú và ung thư vú sau này. Thật không may nếu bạn có bệnh fibrocystic bạn thực sự không biết những gì loại bạn có mà không cần sinh thiết. Mặt khác nếu bạn có i-ốt với số lượng đầy đủ hàng ngày tất cả các bệnh fibrocystic biến mất để bạn là chủ yếu ngăn ngừa ung thư vú xảy ra. Nếu ung thư đã bắt đầu không chắc nó sẽ được dừng lại với i-ốt ở liều đó. 
"Từ điều tra của tôi ung thư cá nhân được tạm chia thành hai giai đoạn. Phần đầu tiên là giai đoạn tiền ung thư (trước khi ung thư) và liên quan đến sự thay đổi của một tế bào bình thường thành tế bào ung thư. Này giai đoạn đầu của sự phát triển ung thư mất khoảng 10-30 năm. Iodine với liều lượng thích hợp dừng lại và đảo ngược giai đoạn này của quá trình ung thư bằng cách gây ra cái chết tự nhiên của tế bào bất thường (apoptosis). Iốt lưu thông khắp cơ thể trong dịch ngoại bào được tìm thấy giữa các tế bào của cơ thể. Nếu protein bề mặt tế bào có acid amin tyrosine ở bên ngoài, i-ốt qua phản ứng với tyrosine này. phản ứng này ít làm biến tính protein và do đó giết chết tế bào. Đó là ngụ ý tất cả các màng tế bào vật có xương sống không có tyrosine trên phần của protein gắn bó ra vào dịch ngoại bào . 
"Tuy nhiên, các protein màng tế bào nội có thể tyrosine mà chỉ tiếp xúc khi màng bị biến dạng bởi sự phát triển tế bào bất thường như chúng ta thấy trong các hình thức tiền ung thư của bệnh fibrocystic. Này sau đó sẽ tiếp xúc với các tyrosine với iodine đi qua trong ngoại bào chất lỏng. Một lần nữa, i-ốt sẽ làm biến tính các protein phản ứng với các tyrosine và do đó tiêu diệt các tế bào. Vì vậy, do đó chúng tôi có hệ thống giám sát để loại bỏ các tế bào bất thường từ cơ thể chúng ta. Mặt khác lượng iốt thấp cho phép các tế bào để tiến hành và phát triển theo hướng ung thư . Đây là gián tiếp hơn bởi vì sự gia tăng dần dần trong các tế bào bất thường chỉ là không được loại bỏ khỏi cơ thể bởi vì có i-ốt đủ để tiến hành việc này. 
"Một khi các tế bào đã trở thành một tế bào ung thư sau đó nó có thể mất hai lượt khác nhau. Nó có thể nhân lên và lây lan hoặc nó có thể nhân lên và chỉ ở lại nơi nó được. Thứ hai được gọi là ung thư biểu mô tại chỗ. (Ung thư tại liên kết mô) Giai đoạn thứ hai (ung thư nhân lên và lan rộng) là phần chúng ta đều quen thuộc với. Kể từ khi các tế bào ung thư vú trung bình tăng gấp đôi mỗi 100 ngày, phải mất 9 năm trước khi chụp quang tuyến vú có thể nhặt nó lên và khoảng 11 năm trước khi chúng tôi tìm thấy nó chính mình. 
"Đây là một phần lâm sàng thứ hai của giai đoạn ung thư (sự lây lan) dường như bị bắt bởi đủ lượng hormone tuyến giáp trong tất cả các mô. Hormone tuyến giáp hoàn toàn kiểm soát các mô liên kết tạo thành một rào cản sàng giống như mạnh mẽ việc thông qua các tế bào ung thư đang cố gắng lây lan. Nồng độ hormone tuyến giáp trong các mô (đặc biệt là các mô liên kết) thúc đẩy sự lây lan của tế bào ung thư. Vì vậy, các hệ thống phòng thủ ung thư cơ thể có hai phần iốt cho người đầu tiên tiền ung thư giai đoạn và hormon tuyến giáp và i-ốt cùng cho giai đoạn lâm sàng thứ hai. Có một số chồng chéo của các hệ thống phòng thủ hai. Các iốt vượt quá chảy ra trong nước tiểu. Tất nhiên, bởi vì i-ốt chảy ra trong nước tiểu nó là ngăn chặn sự phát triển của các tế bào bất thường trong bàng quang và thận hệ thống cùng một lúc. Điều này sau đó ngăn ngừa bệnh ung thư phát triển ở đó. " 
"Một liều đầy đủ i-ốt có thể được định nghĩa là hơn 4 mg mỗi ngày. Giải pháp i ốt được sử dụng trong y khoa cho 200 năm. Một giọt dầu i ốt (6,5 mg mỗi giọt) hàng ngày trong nước, nước cam hoặc sữa sẽ dần dần loại bỏ giai đoạn đầu của sự phát triển căn bệnh ung thư cụ thể là fibrocystic của vú như vậy không có bệnh ung thư mới có thể bắt đầu. Nó cũng sẽ giết chết tế bào bất thường nổi xung quanh trong cơ thể tại các địa điểm từ xa từ các ung thư ban đầu. Tất nhiên phương pháp này xuất hiện để làm việc cho bệnh ung thư tuyến tiền liệt là ung thư tuyến tiền liệt là tương tự như ung thư vú ở nhiều khía cạnh. Thật vậy, nó có thể sẽ giúp với hầu hết các bệnh ung thư. Ngoài ra liều cao hơn của i-ốt cần thiết cho bệnh ung thư vú viêm. Cũng như chúng tôi biết rằng liều lượng lớn iốt tĩnh mạch là vô hại mà làm cho một tự hỏi những gì tác động của nó đến sự phát triển bệnh ung thư. " 
**************************************************
IỐT gây apoptosis: 
Lập trình tế bào chếtcũng được gọi là quá trình apoptosis. (Không có sự đồng thuận nào về cách phát âm nó, một số nói APE oh TOE sis, một số nói uh POP tuh sis.) 
"Apoptosis là một quá trình được tổ chức tốt tế bào tự tử, là bắt buộc để phát triển bình thường và cân bằng nội môi của cơ thể trưởng thành. Apoptosis tiếp cận số dư của sự gia tăng số lượng tế bào bằng phát triển và loại bỏ các tế bào không mong muốn và không cần thiết." 
Trong khu vực của cơ thể, nơi có nhiều tế bào chết, (apoptosis) luôn luôn là một nguồn vô tận của i-ốt. Tất cả các liên kết trong cơ thể của quá trình apoptosis cao (cái chết tự nhiên của tế bào trên một lịch trình thường xuyên và dự đoán được) tìm iốt trong nguồn cung dồi dào. Dịch tiết vào đường mũi và lòng của dạ dày, ví dụ, có cả một tỷ lệ tử vong cao và một nguồn cung cấp vô tận của i-ốt. Không chỉ là i-ốt một chất khử trùng chống lại vi khuẩn, nó cũng là một tác nhân chống ung thư. 
"I-ốt có nhiều đặc tính chống ung thư tế bào ung thư, không giống như các tế bào bình thường, không có một chu kỳ cuộc sống bình thường;. Họ chỉ cần giữ phân chia hơn và hơn tế bào bình thường có một chu kỳ cuộc sống, và khi cuối cùng họ chết, họ được thay thế bằng tế bào mới . Quá trình chết tế bào theo thời gian được gọi là quá trình apoptosis. Iốt đã được chứng minh là gây ra apoptosis (chết) trong vú và các tế bào ung thư tuyến giáp. Tuy nhiên, hiệu ứng apoptosis này sẽ được phủ nhận nếu một goitrogen được đưa ra. 
Làm thế nào để cung cấp i-ốt có hiệu lực apoptosis này? Một cơ chế có thể là iodination lipid. Lipid là chất béo tạo nên màng tế bào của chúng tôi trên khắp cơ thể của chúng tôi. I-ốt có thể kết hợp thành chất béo (chất béo) bên trong tế bào. Những chất này được gọi là iodolipids. Khi iốt được đưa vào chất béo, nó giúp ổn định họ và cũng giúp mỗi tế bào để duy trì một chu kỳ cuộc sống bình thường. 
I-ốt đã được chứng minh là một chất chống oxy hóa mạnh thậm chí hiệu quả hơn Vitamin E, phosphatidyl choline, và vitamin C. Cũng như Vitamin C, i-ốt có chức năng như cả hai chất chống oxy hóa cũng như một chất ôxi hóa trong cơ thể. Tác dụng kép này làm cho nó một tác nhân chống ung thư mạnh. Một trong những dấu hiệu tốt nhất của sức khỏe trong cơ thể là một sự cân bằng giữa các chất chống oxy hóa và oxy hóa. Các mặt hàng như i-ốt và vitamin C có thể giúp duy trì sự cân bằng đó, và do đó, I ốt là một số trong các chất chống ung thư mạnh nhất được biết đến. " 
"I-ốt gây ra apoptosis và ức chế các tế bào hình thành ung thư. Sự vắng mặt của iốt trong tuyến giáp gây ra bệnh bướu cổ. Bướu cổ có liên quan với ung thư vú, ung thư dạ dày, ung thư thực quản, ung thư buồng trứng và ung thư nội mạc tử cung. Nó là cảm nhận của nhiều nhà nghiên cứu rằng sự vắng mặt của i-ốt là một promoter của ung thư. Tôi cảm thấy rằng những bệnh nhân có tỷ lệ bài tiết thấp nhất và hấp thu cao nhất của i-ốt trong bài thi iốt tải là những người có nguy cơ cao nhất cho sự phát triển của ung thư. Từ hàng trăm cuộc phỏng vấn điện thoại với các bệnh nhân trên hai năm qua, mức độ bài tiết i-ốt mà dường như để nâng cao báo động cao nhất là những người trong đó sự bài tiết là khoảng 10 mg hoặc ít hơn mỗi 24 giờ ở bệnh nhân 35 tuổi trở lên. Quan sát của tôi vào thời điểm này cho thấy có một định tăng tỷ lệ mắc bệnh ung thư vú, ung thư dạ dày, ung thư buồng trứng hoặc ung thư tuyến giáp. Nếu một bệnh nhân có xét nghiệm i-ốt có bài tiết i-ốt là 10 mg hoặc ít hơn trong một khoảng thời gian 24 giờ, tôi thực hiện một khám nghiệm ung thư. Năm 1976, một bài báo JAMA cho thấy 6% dân số nữ là nguy cơ ung thư vú. Phụ nữ được bổ sung tuyến giáp tăng gấp đôi nguy cơ ung thư vú tới 12%. Các nhóm tuổi, chúng tôi sử dụng để tách các bệnh nhân trong hình 1-6 được dựa trên bài viết này. Khi phụ nữ càng lớn tuổi, nguy cơ gia tăng ung thư vú. Trong hình 2-6 iốt / kiểm tra tải iodide cho thấy các phụ nữ lớn tuổi, thấp hơn tỷ lệ bài tiết iốt. " 
Hôm nay 1 trong 7 phụ nữ Mỹ (gần 15 phần trăm) sẽ phát triển ung thư vú trong suốt cuộc đời của họ. Ba mươi năm trước, khi tiêu thụ i-ốt là cao gấp đôi nó là bây giờ 1 trong 20 phụ nữ phát triển ung thư vú. I-ốt đã được sử dụng như là một điều bột trong làm bánh mì, và mỗi lát bánh mì chứa 0,14 mg iốt. Năm 1980, các nhà sản xuất bánh mì bắt đầu sử dụng bromide như là một điều thay vào đó, mà cạnh tranh với i-ốt cho sự hấp thụ vào tuyến giáp và các mô khác trong cơ thể. I-ốt cũng là sử dụng rộng rãi hơn trong ngành công nghiệp sữa 30 năm trước hơn bây giờ. 
Nghiên cứu động vật cho thấy rằng i-ốt ngăn ngừa ung thư vú, lập luận cho một liên hệ nhân quả trong những phát hiện dịch tễ học. Các chất gây ung thư nitrosmethylurea và DMBA gây ung thư vú trong hơn 70 phần trăm của chuột cái. Những con chuột đưa i-ốt, đặc biệt là ở dạng phân tử của nó như I2, có giảm đáng kể về mặt thống kê về tỷ lệ mắc bệnh ung thư. Bằng chứng khác thêm sự thật sinh học để giả thiết rằng i-ốt ngăn ngừa ung thư vú bao gồm việc phát hiện ra các tế bào ống động mạch ở vú, những người có nhiều khả năng trở thành ung thư, được trang bị một máy bơm iốt (các symporter natri i-ốt, là tương tự như tuyến giáp tuyến có) để hấp thụ yếu tố này. 
Kết quả tương tự áp dụng cho các bệnh fibrocystic của vú. Tỷ lệ mắc bệnh vú fibrocystic ở phụ nữ Mỹ là 3 phần trăm trong năm 1920. Hôm nay, 90 phần trăm phụ nữ có rối loạn này, biểu hiện bằng tăng sản biểu mô, rụng đầu tuyến chuyển sản, u nang chứa đầy dịch lỏng, và xơ hóa. Sáu triệu phụ nữ Mỹ mắc bệnh fibrocystic có trung bình đến đau ngực nặng và đau kéo dài hơn 6 ngày trong chu kỳ kinh nguyệt. 
Trong nghiên cứu động vật, chuột cái được cho ăn một chế độ ăn ko iốt phát triển thay đổi fibrocystic trong ngực của họ, và iốt trong dạng nguyên tố của nó chữa nó. 
Các nhà nghiên cứu đầu tiên của Nga cho thấy, trong năm 1966, i-ốt mà làm giảm hiệu quả các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh vú fibrocystic. Vishniakova và Murav'eva điều trị 167 phụ nữ bị bệnh fibrocystic với 50 mg KI trong giai đoạn giữa kỳ và thu được một tác dụng chữa bệnh mang lại lợi ích trong 71 phần trăm (đó là tài liệu tham khảo 49 ở đây).
Sau đó Ghent và đồng nghiệp, trong một nghiên cứu được công bố trên Tạp chí của Canada phẫu thuật vào năm 1993, tương tự như vậy cho thấy i-ốt làm giảm các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh vú fibrocystic trong 70 phần trăm bệnh nhân của họ. Báo cáo này là một hỗn hợp của ba nghiên cứu lâm sàng, hai loạt trường hợp được thực hiện tại Canada vào năm 696 phụ nữ được điều trị bằng nhiều loại hình i-ốt, và một ở Seattle. Nghiên cứu Seattle, thực hiện tại bệnh viện Virginia Mason, là một, mù đôi, đối chứng với placebo ngẫu nhiên 56 phụ nữ được thiết kế để so sánh 3-5 mg iốt nguyên tố để giả dược (một hỗn hợp dung dịch nước thuốc nhuộm thực vật màu nâu với quinine). Các nhà điều tra theo phụ nữ trong vòng sáu tháng và theo dõi những thay đổi quan và chủ quan trong bệnh fibrocystic của họ. 
Một phân tích thống kê của nghiên cứu Seattle (mở rộng để bao gồm 92 phụ nữ) đã được thực hiện, trong đó cho thấy rằng i-ốt có tác dụng mang lại lợi ích cao ý nghĩa thống kê về bệnh fibrocystic (P <0.001). I-ốt giảm cứng ngực, nodularity, xơ hóa, turgidity, và số macroscysts, năm thông số trong một cuộc kiểm tra vú tổng số điểm mà bác sĩ không biết về những gì điều trị người phụ nữ đã tham gia, i-ốt hoặc giả dược, được đo. Báo cáo 36 trang này đã được trình lên Cục Quản lý Thuốc và Thực phẩm (FDA) vào năm 1995.
********************************************************************
Giả thuyết được đưa ra ở đây là thiếu i-ốt thay đổi kiến trúc của các mô của vú không phải là có sẵn để gây ra sự khác biệt của các tế bào hoặc quá trình apoptosis của các tế bào vú bình thường đáp ứng với kích thích tố tăng đột biến. Kết nối giữa bệnh vú, bao gồm cả ung thư và bệnh tuyến giáp là một thiếu i-ốt, trong đó ảnh hưởng tiêu cực cả hai độc lập. Có bốn dòng bằng chứng: (1) tuyến giáp liên kết bệnh ung thư vú, (2) hàm lượng iốt trong các khối u vú và mô vú bình thường, (3) mô hình động vật trong đó i-ốt bị đàn áp khối u vú, và (4) độ phân giải của bệnh vú fibrocystic ở phụ nữ.
Bệnh vú Fibrocystic có liên quan đến cục u trong vú và đau vú theo chu kỳ. Khoảng 70 phần trăm phụ nữ sinh sản tuổi thường xuyên bị đau vú theo chu kỳ, và 10-30 phần trăm trong số họ có đau đủ nghiêm trọng để ảnh hưởng đến hoạt động bình thường (24-26). Bệnh vú Fibrocystic, đó là lành tính và không ung thư, làm tăng nguy cơ ung thư vú. Lớn hơn những thay đổi trong mô cao hơn nguy cơ, gần như tăng gấp đôi cho những thay đổi tăng sinh và nguy cơ bốn lần tăng cho tăng sản không điển hình. Trong một nghiên cứu 111 phụ nữ mắc bệnh vú lành tính fibrocystic họ được i-ốt ở mức độ khác nhau trong 6 tháng. Xếp hạng riêng của họ về đau giảm đáng kể bởi 3 tháng trong 3 mg iốt / ngày và nhóm iốt / ngày 6 mg, nhưng không phải trong giả dược hoặc 1,5 mg iốt / ngày. Đánh giá của bác sĩ đau vú, đau, và nodularity cũng ít hơn đáng kể ở nhóm 3 và 6 mg iốt / ngày (28). Ít nhất là 3 mg iốt mỗi ngày là cần thiết để có được một phản ứng. William Ghent và Bernard Eskin cùng điều trị hơn 1.300 bệnh nhân bị bệnh vú fibrocystic sử dụng i-ốt trong 3 hình thức khác nhau, với sự cải thiện trên 70% trong đau đớn và đánh giá khách quan sử dụng i-ốt nguyên tố trong 4 tháng, và trên 90% phục hồi sau 16 tháng điều trị. Điều trị thường là trong khoảng 3-6 mg iốt, mặc dù một số bác sĩ cũng đã tìm thấy một lượng cao hơn để làm việc một cách an toàn và nhanh hơn. Vì vậy, i-ốt dường như là liên kết chính giữa sức khỏe tuyến giáp và sức khỏe vú. Cả hai cơ quan độc lập yêu cầu i-ốt và thiếu nó sẽ gây ra bệnh ở một hoặc cả hai. 
Cảm ơn, V, bạn đang cứu cuộc sống của tôi :) 
"Một liều đầy đủ i-ốt có thể được định nghĩa là hơn 4 mg mỗi ngày. Giải pháp i ốt được sử dụng trong y khoa cho 200 năm. Một giọt dầu i ốt(6,5 mg mỗi thả) hàng ngày trong nước sẽ dần dần loại bỏ giai đoạn đầu của sự phát triển căn bệnh ung thư cụ thể là fibrocystic của vú như vậy không có bệnh ung thư mới có thể bắt đầu. Nó cũng sẽ giết chết tế bào bất thường nổi xung quanh trong cơ thể tại các địa điểm từ xa từ các ung thư ban đầu. Tất nhiên phương pháp này xuất hiện để làm việc cho bệnh ung thư tuyến tiền liệt là ung thư tuyến tiền liệt là tương tự như ung thư vú ở nhiều khía cạnh. Thật vậy, nó có thể sẽ giúp với hầu hết các bệnh ung thư. Ngoài ra liều cao hơn của i-ốt cần thiết cho bệnh ung thư vú viêm. Cũng như chúng tôi biết rằng liều lượng lớn iốt tĩnh mạch là vô hại mà làm cho một tự hỏi những gì tác động của nó đến sự phát triển bệnh ung thư. "

Thứ Năm, 3 tháng 7, 2014

Selen

Quy cách
Sử dụng
Đơn giá
 50 ml
100 liều: 10 giọt = 250 mcg
150 k
Sản phẩm của OGA SHOP
Bảo trì mỗi ngày 10 giọt - 250 mcg selen để duy trì sức khỏe.
Lưu ý : Để xa tầm tay trẻ em.
Sodium Selenite
Sodium selenite phá hủy tế bào ung thư từ nhiều loại ung thư thông qua một loạt các cơ chế. Một trong những cơ chế chống ung thư hấp dẫn nhất của nó là thế hệ có chọn lọc các loài ôxy phản ứng độc hại và phá hủy mục tiêu của ty lạp thể tồn tại trong các tế bào khối u nhưng không trong các mô khỏe mạnh. Nghịch lý thay, sodium selenite đã được chứng minh làm tăng hoạt động của các enzyme chống oxy hóa glutathione peroxidase trong các mô khỏe mạnh, qua đó trao bảo vệ kép.
Sodium selenite tăng cường sửa chữa các phân đoạn DNA bị hư hỏng, làm giảm nguy cơ phát triển ung thư mới, bằng cách tăng cường hệ miễn dịch phản ứng, sodium selenite làm tăng khả năng tế bào ung thư bất thường sẽ bị phá hủy.
Một cơ chế quan trọng của hành động sodium selenite là giảm một loại protein được gọi là Bcl-2, đó là bất thường cao trong tế bào ung thư, ngăn chặn cái chết tự nhiên của mình bằng cách apoptosis. Kết quả là, sodium selenite tăng chết tế bào ung thư bằng cách apoptosis.
Nhiều nghiên cứu con người với sodium selenite hỗ trợ việc sử dụng các hình thức selen như là một liệu pháp bổ sung có thể cho bệnh nhân ung thư và để ngăn ngừa trường hợp mới hoặc định kỳ của ung thư.
Trong một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên của sodium selenite sử dụng 200 mcg mỗi ngày so với giả dược ở bệnh nhân ung thư đầu và cổ tích cực, bệnh nhân bổ sung cho thấy một khả năng tăng để tiêu diệt tế bào ung thư, mà là kết quả của phản ứng miễn dịch được tăng cường. Đáng chú ý, tăng cường khả năng miễn dịch đạt được bằng những bổ sung tiếp tục ngay cả sau khi kết thúc điều trị. Một nghiên cứu khác đã chứng minh rằng việc sử dụng tạm thời của cá nhân được chẩn đoán có khối u miệng 1.000 mcg sodium selenite hiệu quả giảm khả năng gây chết sưng ở những bệnh nhân sau khi phẫu thuật. Hai trăm mcg / kg / ngày sodium selenite ở những bệnh nhân mới được chẩn đoán ung thư hạch không Hodgkin tăng tỷ lệ đáp ứng với hóa trị liệu 50% so với nhóm dùng giả dược, và làm tăng đáng kể thời gian sống chung. Ngoài ra, bệnh nhân bổ sung có giảm đáng kể các dấu hiệu lâm sàng và triệu chứng liên quan đến bệnh.
Về công tác phòng chống, bổ sung sodium selenite giảm sự xuất hiện các trường hợp mới mắc bệnh ung thư gan 50% trong một nhóm lớn của người dân Trung Quốc sống trong một khu vực có nguy cơ cao đối với bệnh ung thư. Nghiên cứu này cung cấp bệnh nhân với 500 mcg mỗi ngày trong 3 năm. giảm trong các trường hợp ung thư vú mới đã được chứng minh trong một nhóm phụ nữ với nguy cơ cao đột biến gen BRCA1, bổ sung trong phiên tòa mù đôi.
Những gì bạn cần biết
TÁC ĐỘNG SELEN VỀ PHÒNG CHỐNG UNG THƯ
Tác động selen về phòng chống ung thư
Selen, một nguyên tố vi lượng cần thiết cho dinh dưỡng con người, là tốt nhất được biết đến như một đồng yếu tố cho các enzym chống oxy hóa quan trọng.
Trong những năm gần đây, tuy nhiên, selen đã nổi lên như một thành phần quan trọng trong chế độ ăn uống ngăn ngừa nhiều loại ung thư.
Cơ chế chống ung thư của selen
Các tế bào trong cơ thể của bạn trải qua biến đổi có khả năng ung thư hàng ngàn lần mỗi ngày. Không có chiến lược chemoprevention có thể thay đổi điều đó; thay vào đó, mục tiêu của bạn nên được để tăng cường cơ chế bảo vệ tự nhiên của cơ thể của bạn để chấm dứt sự tồn tại các tế bào ung thư càng sớm càng tốt, do đó ngăn chặn sự bùng phát tiềm năng của họ vào các khối u ác tính.
Hành vi selen bởi nhiều con đường bổ sung để ngăn ngừa ung thư phát triển. Hiện tượng này, được biết đến như các nhà khoa học pleiotropy, cho phép selen để tấn công bệnh ung thư trên nhiều mặt trận khác nhau, ở nhiều giai đoạn khác nhau. Pleiotropy là một đặc tính quan trọng trong bất kỳ chiến lược phòng ngừa ung thư, vì ung thư đều có nhiều nguyên nhân và cơ chế của riêng mình, sẵn sàng khắc phục phương pháp điều trị duy nhất được nhắm mục tiêu.
Nghiên cứu chi tiết tại cho thấy 12 cơ chế khác nhau sau đây mà selen có khả năng ngăn chặn các tế bào ung thư từ khối u đạt được trạng thái toàn diện:
  1. Quy định của lipoxygenases, men sản xuất các phân tử viêm thúc đẩy tăng trưởng ung thư;
  2. Giảm trực tiếp stress của oxy hóa gây thiệt hại gốc tự do;
  3. Bảo vệ các chất chống oxy hóa-tái chế Seleno-protein;
  4. Giải độc của kim loại gây ung thư;
  5. Cảm ứng của bảo vệ "giai đoạn II" men gan trung hoà độc tố gây ung thư hữu cơ;
  6. Ức chế sự biến đổi DNA, tiền thân đầu những thay đổi ung thư;
  7. Bất hoạt các yếu tố phiên mã phân tử theo yêu cầu của tế bào ung thư để hỗ trợ tăng trưởng và phát triển của mình;
  8. Tắt của chu kỳ tái tạo tế bào thiết yếu cần thiết để sản xuất tế bào ung thư tăng trưởng bùng nổ của họ;
  9. Cảm ứng của quá trình apoptosis, các tế bào chết được lập trình, một tính năng tự nhiên của tất cả các tế bào cơ thể bình thường mà là mất tích trong tế bào ung thư, cho phép họ tiếp tục sinh sản không thời hạn;
  10. Tăng cường hoạt động hệ miễn dịch để phát hiện và tiêu diệt tế bào ung thư mới chớm;
  11. Ức chế tuyến yên của các thụ thể hoóc môn giới tính được sử dụng bởi các bệnh ung thư nhất định để duy trì tăng trưởng của họ; 25
  12. Hạn chế ảnh hưởng đến cuộc xâm lược của khối u và di căn.

12 các cơ chế cùng nhau hành động để bảo vệ tối đa ung thư, và các cơ chế mới vẫn đang được phát hiện.
Lợi ích bổ của sung selen
Ngoài việc bảo vệ chống lại các bệnh ung thư khác nhau, một loạt các nghiên cứu lâm sàng cho thấy selen đóng một vai trò trong việc phòng ngừa và điều trị một mảng đáng chú ý của bệnh lý, bao gồm:
  • Bệnh tim mạch
  • Viêm xương khớp
  • Viêm khớp dạng thấp
  • Suy giáp
  • Đột quỵ
  • Xơ vữa động mạch
  • HIV
  • AIDS
  • Bệnh Alzheimer
  • Amyotrophia credit
  • Viêm tụy
  • Trầm cảm

• Selen là theo yêu cầu của cơ thể của một chất khoáng. Nó hoạt động chủ yếu trong các hình thức selenomethionine được tích hợp vào bốn địa điểm hoạt động của các enzyme peroxidase glutathionine. Enzyme này bảo vệ chống lại các gốc tự do (đặc biệt là trong màng tế bào) gây ra bởi quá trình oxy hóa của các axit béo không bão hòa, và nó trong lịch sử có liên quan đến vitamin E, trong đó khối sản xuất của các axit béo bị oxy hóa trong màng tế bào. Trong vai trò quan trọng của nó trong glutathione peroxidase, selen ảnh hưởng đến tất cả các thành phần của hệ thống miễn dịch, bao gồm cả việc phát triển và chức năng của các tế bào máu trắng.
• Selen xuất hiện để gây hoạt động chống oxy hóa của riêng mình. Đó là tham gia vào việc sản xuất và sử dụng của hormone tuyến giáp và là đối kháng với các kim loại nặng như chì, thủy ngân, nhôm, và cadmium.
• Các điều kiện khác, trong đó selenium có thể đóng một vai trò bảo vệ quan trọng bao gồm chậm phát triển ở trẻ em bị suy dinh dưỡng, thiếu máu tán huyết của trẻ sơ sinh, vô sinh, bệnh tuyến tụy, ngộ độc bởi bình thường lượng vô hại của các chất độc hại, và Sudden Infant Death Syndrome (SIDS).
• Bởi vì một lượng lớn selen là chất độc có khả năng, lượng hàng ngày lớn hơn khoảng 500 mcg chỉ nên được thực hiện dưới sự giám sát của y tế có trình độ chuyên môn.

Toán học tuyệt diệu cho ung thư

Ngay cả khi bạn đi điều trị ung thư tại các bác sĩ chuyên khoa ở Mỹ, tỉ lệ chữa ung thư cũng chỉ 3%. Việc dùng hóa trị, xạ trị (hóa chất, chiếu tia phóng xạ) điều trị ung thư làm suy yếu hệ miễn dịch cơ thể, suy yếu thì bệnh ngày càng phát triển hơn và chết sớm hơn. Với giao thức trị liệu tự nhiên tỉ lệ chữa khỏi ung thư tăng lên 90% gấp 30 lần. Ung thư dạ dày hay ruột và vào viện chữa kiểu phẫu thuật, sinh thiết, xạ trị là 100% tử vong vì nó gây thiệt hại dạ dày, ruột khiến cơ thể không hấp thu được dinh dưỡng. Phẫu thuật cắt bỏ ung thư có thể làm tế bào ung thư văng be bét gây di căn....: hệ miễn dịch cơ thể bị tắt khi gây mê.
Chúng ta có thể vẽ ra những điều quan trọng với số liệu thống kê ung thư. Nếu khoa học cho chúng ta biết một chất, cho dù độc hại hay không, tăng hoặc giảm cơ hội chữa trị hoặc hồi phục sau ung thư họ đang nói với chúng ta điều gì đó quan trọng mà chúng ta có thể sử dụng. " Toán học tuyệt diệu cho ung thư " là đơn giản! Chỉ cần thêm đủ chất làm giảm bệnh ung thư vào một giao thức điều trị ung thư và chúng đến dưới một hình thức tuyệt đẹp của ung thư tự nhiên sẽ thay đổi thế giới .
Một trong những nét đẹp của Toán học tuyệt diệu cho ung thư là nó hoạt động theo cả hai hướng. Nếu chúng ta cộng tất cả các tác nhân gây ung thư và bắt đầu để loại bỏ từng tác nhân một chúng ta có thể làm giảm số lượng lớn tỷ lệ ung thư. Tất nhiên điều này luôn luôn là nói dễ hơn làm bởi vì trong thế giới ngày nay, chất gây ô nhiễm ở khắp mọi nơi. Cũng có những người không sẵn sàng từ bỏ những điều mà họ được hưởng hoặc nghiện, không biết những điều này là có hại cho sức khỏe của họ.  
The President’s Cancer Panel ban hành một báo cáo mang tính bước ngoặt cho thấy các quan chức y tế công cộng đã "hiển nhiên đánh giá thấp" mức độ ung thư môi trường gây ra trong 1,5 triệu người Mỹ được chẩn đoán với bệnh hàng năm . Một số lượng đáng kể tử vong ung thư hàng năm ở Mỹ là do ô nhiễm môi trường và tiếp xúc nghề nghiệp; người lao động có thu nhập thấp và các cộng đồng bị ảnh hưởng nặng nề bởi các tiếp xúc (Hiệp hội Ung thư Mỹ, Sự kiện và số liệu năm 2006). Chuyên gia ung thư và các quan chức y tế có xu hướng phơi bày các mối đe dọa nguy hiểm từ môi trường như làm tất cả những người sống ở các thành phố lớn mà là bị ô nhiễm nặng.
Theo số liệu được công bố trên tạp chí British Journal of Cancer vào năm 2002, 4% của tất cả các bệnh ung thư vú ở Vương quốc Anh-khoảng 44.000 trường hợp, một năm là do uống rượu. Trong khi điều trị ung thư này là một yếu tố được tính đến. Và đáng ngạc nhiên, cần sa thực sự giúp ngăn ngừa ung thư phổi , thậm chí hút nó. Có, hút thuốc lá cần sa thiệt hại tế bào phổi, nhưng các tế bào này không biến ung thư. Cùng không thể nói thuốc lá hút thuốc. Hút thuốc lá và cũng hút cần sa có nguy cơ thấp hơn bị ung thư phổi hơn những người chỉ hút thuốc lá. Cần sa cực kỳ hữu ích cho điều trị ung thư như vậy trong thực tế nó chỉ ra rằng hút cần sa là phục vụ nhiều hơn nữa cuộc sống và bảo vệ cuộc sống sau khi uống.
Các bằng chứng cho thấy các loại phổ biến của bệnh ung thư là bệnh phần lớn tránh được là không khó để tìm thấy. Đến nay là tỷ lệ phần trăm lớn nhất được biết đáng tin cậy là 30% các ca tử vong ung thư Mỹ hiện nay là do thuốc lá. Như xa trở lại như năm 1981,Tạp chí của Viện Ung thư Quốc gia đã chỉ ra rằng một số yếu tố dinh dưỡng (s) cuối cùng có thể được tìm thấy là có tầm quan trọng tương đương. Dưới đây chúng tôi khám phá những yếu tố dinh dưỡng.
Khoa học biết rằng những người sống ở các vùng đất giàu selen hoặc giàu magiê rất nhiều lần có ít khả năng mắc bệnh ung thư. Ở Trung Quốc, nơi mà các mức selen trong đất thay đổi nhiều hơn đáng kể so với ở Hoa Kỳ và dân số ít điện thoại di động, một nghiên cứu sinh thái vào năm 1985 cho thấy kết quả đáng kể trong việc kết nối ung thư với sự thiếu hụt selen. Trong phân loại thấp selen, những người đã chết vì ung thư cao gấp ba lần so với phân loại cao selen.
Tỉ lệ chết vì ung thư cho những người uống selenium được cắt giảm gần một nửa , theo nghiên cứu được công bố trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ vào ngày 25 Tháng Mười Hai năm 1996. Ngoài ra, những người đã bổ sung selen có bệnh ung thư tuyến tiền liệt ít hơn 63% , ung thư đại trực tràng ít hơn 58% , ung thư phổi ít hơn 46% và tổng thể ít hơn 37% các bệnh ung thư. Selen được tìm thấy để giảm nguy cơ ung thư phổi ở một mức độ lớn hơn là ngưng hút thuốc lá.
Một số nghiên cứu đã cho thấy tỷ lệ ung thư gia tăng ở các vùng có mức magiê thấp trong đất và nước uống. Tại Ai Cập tỷ lệ ung thư chỉ có khoảng 10% so với ở châu Âu và Mỹ. Trong nông thôn Ai Cập thực tế không tồn tại. Sự khác biệt chính là một lượng magiê rất cao 2,5-3 g trong các quần thể không mắc bệnh ung thư, hơn mười lần so với ở hầu hết các nước phương Tây. 
Một mối quan hệ nghịch đảo giữa tỷ lệ ung thư và hàm lượng magiê trong nước và đất đã được báo cáo trên toàn thế giới từ đầu nghiên cứu , bắt đầu từ hơn 50 năm trước đây. Một báo cáo của Nga cho thấy ung thư dạ dày là phổ biến hơn bốn lần ở Ukraine, nơi hàm lượng Magiê trong đất và nước uống là thấp hơn Armenia, nơi hàm lượng Magiê là nhiều hơn gấp đôi. Một hình thái và phân tích thống kê gần đây các ca tử vong ung thư ở hai cộng đồng Ba Lan tiết lộ một gần tỷ lệ tử vong lên cao hơn gấp ba lần trong cộng đồng đất nghèo Magiê hơn trong đất giàu Magiê (10%).
Tràn ngập cơ thể với magiê làm tăng cơ hội sống sót của bệnh ung thư của bạn và sống một cuộc sống lâu hơn ít nhất 20% , dè dặt nói, con số thực có thể cao hơn nhiều.
Vitamin D & Mặt Trời
Một nghiên cứu dịch tễ học của Tiến sĩ Cedric Garland tập trung vào mối quan hệ giữa ung thư vú và nồng độ vitamin D như trong y văn. Kết luận của họ: Nếu phụ nữ giữ nồng độ trong máu vitamin D của họ vào khoảng 52 ng / ml, họ có thể mong đợi một giảm 50% nguy cơ ung thư vú .
Tiến sĩ Pamela Goodwin và các đồng nghiệp truy phân tích hơn 500 phụ nữ trong khoảng thời gian 11 năm. Kết quả: Những phụ nữ đã bị thiếu vitamin D ở thời điểm chẩn đoán ung thư vú của họ là 73% nhiều khả năng chết vì bệnh ung thư vú hơn những người có đủ vitamin D tại thời điểm chẩn đoán, cũng như là gần như gấp đôi khả năng có tái phát trong thời gian 11 năm.
Tiến sĩ Joan Lappe và các đồng nghiệp của cô trông tiền cứu ở hơn 400 phụ nữ sau mãn kinh trong thời gian bốn năm của thời gian. Phụ nữ trong nhóm nghiên cứu đã đưa ra 1.100 IU vitamin D và 1000 mg canxi mỗi ngày. Nhóm kiểm soát không nhận được điều này. Kết quả: những phụ nữ có lượng vitamin D và canxi giảm tỷ lệ bị ung thư đến 60% . Các tác giả phát hiện ra rằng cứ mỗi 10 ng / ml tăng mức vitamin D trong máu của một người phụ nữ, nguy cơ tương đối của ung thư giảm 35% .
Một nghiên cứu của các nhà khoa học của Cơ quan Nghiên cứu Quốc tế về Ung thư ở Lyon và Viện Ung thư châu Âu tại Milan xem xét 18 thử nghiệm trên 57.000 người thấy rằng những người đã bổ sung vitamin D có nguy cơ thấp hơn 7% về cái chết của tổng thể trong sáu năm thời gian nghiên cứu.
Chậm thở
Một nghiên cứu lâm sàng ở Nga được tiến hành bởi Tiến sĩ Sergey Paschenko được xuất bản bởi các quốc gia Tạp chí Ung thư học tiếng Ukraina. Việc loại bỏ tăng thông khí và hypocapnia ở những bệnh nhân bị ung thư vú thông qua hơi thở chậm hơn dẫn đến sự gia tăng tỷ lệ sống ba năm và một chất lượng cuộc sống tốt hơn cho bệnh nhân. Trong nghiên cứu này khi sửa đổi đào tạo lại thở kỹ thuật đã được áp dụng, tỷ lệ tử vong ba năm đối với nhóm thở bình thường là 4,5% và ở nhóm kiểm soát 24,5%. Do đó, hít thở bình thường giảm tỷ lệ tử vong 3 năm hơn 5 lần . Tất cả các bệnh nhân bình thường hơi thở của họ sống sót. Chúng ta hãy thêm một 30% cơ hội đánh bại bệnh ung thư của một người chỉ chi tiêu một giờ một ngày sử dụng một thiết bị thở của Nga được thiết kế cho bệnh nhân hen.
Mang lại của cơ thể của bạn pH lên đến bình thường với việc sử dụng sodium bicarbonate (sau 2 - 4 tuần mà dùng baking soda không khỏi thì bỏ baking đi) và posstasium bicarbonate cùng với thay đổi chế độ ăn uống và sử dụng các siêu dinh dưỡng sẽ tăng cơ hội sống sót của bệnh ung thư của mình bằng số lượng lớn xem xét rằng nguyên nhân của ung thư là rất nhiều gắn với oxy thấp và nồng độ carbon dioxide, tế bào điện áp thấp và độ pH thấp (có nghĩa là có tính axit) điều kiện.
Tiến sĩ Robert J. Gillies và nhóm nghiên cứu từ Đại học Wayne State of Medicine cho thấy rằng cuộc xâm lược khối u và pH peritumoral là, " Trong mọi trường hợp, độ pH peritumoral là có tính axit và không đồng nhất và các khu vực của cuộc xâm lược khối u cao nhất tương ứng với khu vực pH thấp nhất. Để hỗ trợ về tầm quan trọng của chức năng phát hiện của chúng tôi, uống sodium bicarbonate là đủ để tăng pH peritumoral và ức chế sự phát triển khối u và cuộc xâm lược địa phương trong một mô hình tiền lâm sàng, hỗ trợ giả thuyết xâm lược axit trung gian. "
Thật khó để đưa một số về hiệu quả của một sự thay đổi pH mạnh để kiềm hoặc những gì siêu dinh dưỡng sẽ làm cho bệnh nhân ung thư, bên cạnh tiết kiệm cho họ khỏi chết đói sau khi bị ăn thịt ra khỏi nhà và nhà của tế bào ung thư.
Nếu bạn nhìn vào này đoạn video về việc sử dụng các loại thuốc độc để giảm nguy cơ mắc ung thư vú 50%, bạn sẽ thấy rằng các phương pháp được mô tả trong Toán học Thánh cho ung thư là hợp lý hơn bằng cách so sánh. Sử dụng bicarbonates hoặc uống nước biển chính nó (một cách tuyệt vời để tăng độ kiềm) có thể sẽ làm giảm cơ hội nhận được bệnh ung thư của một người 50% và siêu sử dụng sẽ thêm lợi ích mạnh mẽ của mình.
Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Gây ung thư cho thấy rằng trong cả hai dòng tế bào và các mô hình chuột, chiết xuất hạt nho (GSE) giết chết đầu và cổ vảy tế bào ung thư biểu mô tế bào, trong khi tế bào khỏe mạnh lại không hề hấn gì. "Đó là một hiệu ứng khá ấn tượng," Rajesh Agarwal, Tiến sĩ, nhà nghiên cứu tại Đại học Trung tâm Ung thư Colorado và là giáo sư tại Trường Skaggs Khoa học Dược phẩm nói. Đây chỉ là một ví dụ về một đường dài của thực phẩm tập trung rằng ung thư dường như ghét. Nghiên cứu cũng cho thấy chiết xuất hạt nho mục tiêu các tế bào ung thư trở nên kháng nhất để hóa trị.
Thêm i-ốt đến mức bão hòa tuyến giáp, vú, buồng trứng và tuyến tiền liệt sẽ dễ dàng tăng khả năng đánh bại bệnh ung thư (đặc biệt là trong các cơ quan này) bằng một phần trăm không biết nhưng tôi sẽ đặt cược nó như là một hồ sơ cá nhân chống ung thư tương tự như tương tự như selen và magiê . Iốt , quản lý theo cách các bác sĩ sử dụng để quy định cách đây 100 năm, là một tác nhân hóa trị mạnh mà không có bất kỳ tác dụng phụ của các loại điều trị phổ biến khác. Chúng ta hãy chỉ định 30% ở đây.
Lynne Farrow, trong cuốn sách của mình, " Khủng hoảng Iốt: Những gì bạn không biết về Iodine có thể phá hỏng cuộc sống của bạn " Các chi tiết về cuộc chiến đấu của cô với Giai đoạn 3 Ung thư vú. Cô giải thích nghiên cứu của mình và làm thế nào ung thư của cô đã thuyên giảm từ khi dùng iốt. 
Tôi đã đưa ra một bản sao của cuốn sách của Lynne cho tất cả hàng xóm của tôi. Một trong số đó là một người phụ nữ đã được gửi đến nhà tế bần vì bệnh ung thư giai đoạn cuối. Cô bị ung thư tử cung nặng đã lan đến bàng quang âm đạo & cổ & đã được bác sĩ kết luận còn sống được 3 tháng. Cô và người bạn thân nhất của cô bắt đầu bổ sung Iodine với tất cả các yêu cầu dinh dưỡng đồng bổ sung. Trong vòng 9 tháng, cô đã khỏi ung thư và người bạn tốt nhất của cô nhận thấy rằng bệnh vú fibrocystic của cô đã biến mất. Một phép lạ tăng gấp đôi! Bác sĩ của cô đã nói với cô học cách sống chung với nỗi đau vú, hoặc thực hiện một cắt bỏ hai vú. Có rất nhiều bệnh ung thư và những câu chuyện thành công của chúng tôi trong bệnh vú fibrocystic. Các bác sĩ iốt cũng nêu rằng bệnh vú fibrocystic tự nhiên dẫn đến ung thư trong một số trường hợp.
Uống đủ tinh khiết, nước chất lượng cao cũng sẽ làm cho một sự khác biệt lớn nhưng khôn lường. Hãy tưởng tượng sự khác biệt giữa một người làm hóa trị liệu trong khi hoàn toàn ngậm nước và một người đang bị mất nước nghiêm trọng. Bác sĩ có lẽ sẽ làm xước đầu ngày này vì họ không có ý tưởng rằng thuốc cơ bản nhất cho ung thư hoặc bất cứ điều gì-là nước. Khi điều trị ung thư, chỉ có nước thuốc chất lượng nên được sử dụng, có nghĩa là không có clo hoặc florua. Chúng ta hãy chỉ định một giá trị của 20% sự khác biệt ở mức tối thiểu cho sự khác biệt đủ nước làm trong điều trị ung thư hoặc ngăn chặn.
Chương trình điều trị ung thư toàn điện bắt đầu với chương trình làm sạch cơ thể
Một khi ung thư đã trở nên thiết lập chế độ ăn lành mạnh làm tăng tốc độ tăng trưởng của nó và chế độ ăn nghèo giảm tốc độ tăng trưởng của nó. Đây là bất chấp những ảnh hưởng có lợi cho một chế độ ăn uống lành mạnh có thể tăng cường hệ thống miễn dịch. Khuyến cáo tránh đường, sữa, thực phẩm chế biến giàu chất bảo quản... Ăn ít thịt và tinh bột, gạo, ăn nhiều rau.
Một chế độ ăn uống hạn chế làm chậm lại tốc độ tăng trưởng của ung thư, nhưng không có bằng chứng về việc chữa bệnh hoặc thuyên giảm.
Vitamin C với liều thông thường (tương đương con người của 1-5 gram / ngày) làm tăng tốc độ tăng trưởng của ung thư trong khi liều lớn hơn nhiều (10 gr) ức chế tốc độ tăng trưởng ung thư.
VIRUS GÂY BỆNH UNG THƯ VÀ CẢN TRỞ QUÁ TRÌNH ĐIỀU TRỊ
Một phần lớn nguyên nhân không nói ra của ung thư là do virus liên quan. Virus tấn công DNA, làm cho hệ thống miễn dịch suy yếu, do đó kết quả trong các loại ung thư khác nhau. Bệnh ung thư Vú và tuyến tiền liệt , hai trong số các bệnh ung thư phổ biến nhất, là hai ví dụ về bệnh ung thư của virus liên quan. Trong một nghiên cứu về ung thư vú ở người, 38,5% của các mô ung thư được kiểm tra có chứa virus do loài gặm nhấm truyền qua. Vi rút đã góp phần vào dịch ung thư trên toàn thế giới. Lão hóa và suy dinh dưỡng làm suy yếu hệ thống miễn dịch của cơ thể và do đó rời khỏi cơ thể dễ bị virus có hại. Tại Mỹ, 77% của tất cả các bệnh nhân ung thư là 55 tuổi trở lên. năm 2007, đã có hơn 186.000 trường hợp ung thư dẫn đến suy dinh dưỡng, và tỷ lệ tiếp tục phát triển!
Số virus được biết đến gây ung thư bao gồm: viêm gan B virus (HBV), loại virus suy giảm miễn dịch ở người (HIV), loại virus gây u nhú ở người (HPV), và Helicobacter pylori (H. pylori) virus gây viêm loét dạ dày. các nghiên cứu đã chỉ ra rằng 75% ung thư gan là do viêm gan B hoặc C. các viurs Epstein Barr (EBV) gây ảnh hưởng đến 90% dân số thế giới. EBV có liên quan đến: ung thư vú, ung thư dạ dày, ung thư biểu mô vòm họng, u lympho, bệnh Hodgkin / u lympho, u lympho không Hodgkin, và u lympho Burkitt của châu Phi. Sử dụng Giải pháp khoáng diệt virus trong cơ thể.