Web có hơn 1,100 bài viết, hàng trăm chủ đề sức khỏe. Nhiều bài không hiển thị trên tìm kiếm hơi bất tiện. Xem mục DANH SÁCH BÀI VIẾT.

Thứ Năm, 13 tháng 1, 2022

Axit và kiềm

Nhiều hệ thống dinh dưỡng và ăn kiêng nhấn mạnh tầm quan trọng của sự cân bằng axit-kiềm trong cơ thể. Chủ đề có thể khó hiểu, vì vậy chúng ta hãy thảo luận một số khái niệm cơ bản liên quan đến cân bằng axit-bazơ và phân tích khoáng chất tóc.

Axit và kiềm có nghĩa là gì?

Axit và kiềm đề cập đến nồng độ của các ion hydro trong một hệ thống. Nó còn được gọi là độ pH. Thuật ngữ này hơi khó hiểu vì độ pH càng cao, nồng độ ion hydro càng thấp. Độ pH trung tính là 7. Độ pH lớn hơn 7 được gọi là kiềm , trong khi độ pH nhỏ hơn 7 được gọi là axit .

Sự cân bằng pH rất quan trọng vì nhiều hệ thống enzym phụ thuộc nhiều vào độ axit thích hợp để hoạt động. Một ví dụ điển hình là enzym tiêu hóa pepsin, được tìm thấy trong dạ dày. Pepsin không hoạt động và không thể tiêu hóa thức ăn trừ khi độ pH của dạ dày giảm xuống dưới khoảng 5. Tương tự như vậy, hàng trăm enzym có giá trị pH tối ưu mà chúng hoạt động hiệu quả nhất. Sự mất cân bằng độ pH có thể làm cho các enzym này mất tác dụng một phần hoặc thậm chí hoàn toàn.

Độ pH hoặc độ axit của tế bào cơ thể không đổi, do một số hệ thống đệm. Hệ thống đệm là một hệ thống liên tục bù đắp cho những thay đổi của pH để đệm hoặc giảm những thay đổi đó. Điều này giữ cho độ pH trong phạm vi có lợi cho sức khỏe.

Để đệm pH của dịch ngoại bào, thận và phổi đóng vai trò chính. Thận bài tiết các ion H + và có thể giữ lại các ion clorua, hoặc ngược lại. Phổi bài tiết khí cacbonic có tính axit. Các vấn đề về thận hoặc phổi là một trong những nguyên nhân gây mất cân bằng độ pH.

Độ pH bình thường của dịch ngoại bào là khoảng 7,4. Đây là độ pH hơi kiềm. Nó có thể chênh lệch nửa điểm, nhưng bất kỳ sự thay đổi nào lớn hơn đều gây ra các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng. Hãy nhớ rằng cơ thể không bao giờ thực sự là axit - độ pH chỉ trở nên có tính axit hơn một chút so với mức lý tưởng.

Các loại oxy hóa và tính axit

Một nguyên nhân quan trọng gây ra quá nhiều axit hoặc kiềm trong cơ thể là tốc độ oxy hóa không cân bằng. Nói chung, tốc độ oxy hóa nhanh dẫn đến môi trường bên trong có tính axit hơn. Điều này xảy ra do quá trình trao đổi chất diễn ra nhanh hơn tạo ra nhiều sản phẩm cuối cùng của quá trình trao đổi chất, đó là axit. Một trong những chất quan trọng nhất là axit lactic .

Các chất oxy hóa nhanh có xu hướng có tính axit cao hơn vì một lý do khác. Chúng thường có lượng canxi thấp. Canxi được sử dụng như một chất đệm và giúp chuyển hóa axit lactic thành canxi lactat. Với nồng độ canxi trong mô thấp hơn, các chất oxy hóa nhanh chuyển hóa axit lactic chậm hơn, dẫn đến tình trạng có tính axit cao hơn.

Chất oxy hóa nhanh với tỷ lệ natri / kali thấp có thể có một nguyên nhân khác gây ra tình trạng quá axit. Nếu họ không dung nạp glucose, họ không thể đốt cháy glucose theo cách bình thường. Thay vào đó, chúng đốt cháy chất béo và protein và trong một số trường hợp nghiêm trọng sẽ chuyển sang trạng thái nhiễm ceton, còn được gọi là nhiễm toan ceton . Nó là một quá trình trao đổi chất tạo ra axit. Tình hình thậm chí còn tồi tệ hơn nếu họ tiêu thụ ngũ cốc và đường, những thứ tạo ra các sản phẩm phụ chuyển hóa có tính axit.

Chất oxy hóa chậm tạo ra ít axit lactic hơn và mức canxi trong mô cao hơn. Vì những lý do này, nước tiểu hoặc nước bọt của nhiều chất oxy hóa chậm có tính kiềm quá mức. Sai lệch nhẹ so với bình thường không quan trọng, nhưng nếu độ pH thay đổi đáng kể, tiêu hóa và các chức năng khác sẽ bị suy giảm.

Tình trạng quá kiềm của nhiều chất oxy hóa chậm khiến chúng khó sản xuất đủ axit clohydric để tiêu hóa protein trong dạ dày. Ngược lại, những chất oxy hóa nhanh dễ bị axit trong dạ dày quá mức.

Chế độ ăn uống và cân bằng độ pH

Chế độ ăn uống có thể đóng một vai trò quan trọng trong sự cân bằng axit-bazơ, mặc dù nó chỉ là một yếu tố. Các quy tắc chung như sau:

Protein, đặc biệt là protein động vật, có tác dụng axit hóa. Hạt nấu chín cũng có phản ứng axit. Cả protein và ngũ cốc đều chứa nhiều phốt pho, chất này liên kết với canxi và do đó làm tăng mức axit lactic. Protein cũng có xu hướng tăng tốc độ oxy hóa.

Đường có phản ứng axit vì đường cản trở quá trình chuyển hóa canxi và vì đường đốt cháy tạo ra các sản phẩm cuối cùng của quá trình trao đổi chất có tính axit.

Muối, trái cây và rau quả thường có phản ứng kiềm trong cơ thể. Tác dụng này không liên quan nhiều đến việc liệu trái cây có phải là trái cây 'axit' hay không, như chanh. Yếu tố quyết định là tro khoáng có tính kiềm hay axit. Natri, kali và clorua là các khoáng chất tro kiềm (và có nhiều trong trái cây và rau quả). Phốt pho và lưu huỳnh là các khoáng chất tro axit và có xu hướng cao hơn trong protein, thịt và ngũ cốc. Chất béo có phản ứng khá trung tính. Thực phẩm sống có xu hướng có phản ứng kiềm hơn.

Hơi thở và tính axit

Những người không thở sâu từ bụng có nguy cơ bị nhiễm axit nhiều hơn. Ngược lại, tăng thông khí có thể tạo ra cái gọi là nhiễm kiềm hô hấp . Một số người có thể bị thu hút bởi việc hút thuốc lá để giúp họ hít thở sâu hơn và do đó giúp duy trì sự cân bằng độ pH của họ.

Tóm lại, loại oxy hóa, chế độ ăn uống và thở đều đóng một vai trò trong sự cân bằng độ pH của một người. Bằng cách điều chỉnh hóa học cơ thể thông qua cân bằng dinh dưỡng, độ pH sẽ thay đổi về hướng bình thường.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét