Web có hơn 900 bài viết, hàng trăm chủ đề sức khỏe. Nhiều bài không hiển thị trên tìm kiếm hơi bất tiện. Xem mục lưu trữ blog. Các bài viết sẽ cập nhật cải thiện

Thứ Ba, 28 tháng 5, 2019

Enzyme tụy: Cách chống ung thư hiệu quả?

Các bác sĩ sẽ đề xuất một quá trình hóa trị và xạ trị, điều này sẽ tàn phá thêm hệ thống miễn dịch của họ và khiến họ có chất lượng cuộc sống kém.

Khoảng 4 trong 5 người sẽ chết vì một trong hai bệnh ung thư hoặc các “phương pháp điều trị.”

Nhưng nếu tôi nói với bạn rằng có một cách khác để chống ung thư tuyến tụy thì sao? Một giao thức không có tác dụng phụ và hoàn toàn dựa vào tự nhiên và hệ thống miễn dịch tự nhiên của cơ thể để chống lại bệnh tật? Tôi đang nói về các enzyme tuyến tụy, đã được sử dụng trong nhiều năm như là một phần của chế độ ăn uống phù hợp để chống ung thư.

Tuyến tụy là một tuyến sản xuất các enzyme tiêu hóa và insulin. Đây là một cơ quan thiết yếu để duy trì tiêu hóa khỏe mạnh và điều chỉnh lượng đường trong máu. Những người bị ung thư tuyến tụy bắt đầu mất khả năng sản xuất các enzyme này, điều này khiến cho việc tiêu hóa các chất béo và protein quan trọng hoặc hấp thụ chất dinh dưỡng gần như không thể.

Điều này được gọi là suy tụy ngoại tiết (PEI), và có thể gây ra một loạt các vấn đề. Điều tồi tệ hơn là các phương pháp điều trị thông thường như hóa trị và phẫu thuật xâm lấn chỉ phục vụ để làm trầm trọng thêm các vấn đề. Điều này có thể dẫn đến suy dinh dưỡng nghiêm trọng, giảm cân không lành mạnh, tiêu chảy và đau bụng.

Nhiều người chống lại các triệu chứng này bằng cách uống enzyme tụy.

Trong nhiều năm, liệu pháp thay thế enzyme tuyến tụy, hay PERT, đã được sử dụng để điều trị PEI. PERT chủ yếu sử dụng các enzyme bổ sung để giúp hỗ trợ tiêu hóa. Chúng có dạng viên nang và có nguồn gốc từ tuyến tụy của lợn. Các chất bổ sung có chứa lipase, đó là enzyme tuyến tụy liên quan đến việc phân hủy chất béo thành axit béo.

Các phương pháp điều trị ung thư thay thế sử dụng liệu pháp enzyme liều cao để phá vỡ các khối u, quét các mảnh vụn của hệ tuần hoàn và kích thích chức năng miễn dịch. Các enzym hệ thống, được sử dụng trong các giao thức này, phá vỡ lớp phủ bảo vệ của vi rút, giải phóng chúng để chúng có thể bị hệ thống miễn dịch xác định và tấn công. Vi rút và các vi sinh vật gây bệnh khác làm tăng đáng kể lượng chất độc, tạo gánh nặng cho hệ thống miễn dịch. Loại bỏ những nhiễm trùng này là điều tối quan trọng để có được chức năng miễn dịch tối ưu.

Quá trình này cũng áp dụng cho các tế bào ung thư. Khi fibrin bị phá vỡ, hệ thống miễn dịch sau đó có thể nhắm mục tiêu những kẻ xâm lược gây bệnh hiệu quả hơn. Enzyme cũng làm tăng chức năng miễn dịch bằng cách kích thích các phân tử miễn dịch, chẳng hạn như cytokine, đại thực bào và tế bào tiêu diệt tự nhiên. Với hệ thống miễn dịch hoạt động hết công suất, nó có thể thực hiện nhiệm vụ ngăn chặn sự phát triển và lây lan của ung thư.

Có rất nhiều lợi ích của liệu pháp enzym, không chỉ để điều trị ung thư mà còn để ngăn ngừa ung thư, giảm đau và cải thiện sức khỏe nói chung. Dưới đây là danh sách các tác dụng có lợi của liệu pháp enzyme đối với cơ thể con người:

Giảm viêm

Làm tan các mô sẹo

Giảm đau và sưng

Cải thiện lưu thông

Tăng cường hệ thống miễn dịch

Phá vỡ fibrin

Loại bỏ chất thải khỏi dòng máu

Cải thiện chức năng gan

Tăng hiệu quả của các tế bào bạch cầu

Quản lý nấm men phát triển quá mức

Tăng tốc phục hồi

Làm tan cục máu đông và mảng bám

Giảm dị ứng

Ngoài vô số lợi ích này, các enzym cũng liên kết với các chất kháng proteinase, có tác dụng ức chế sự di căn. Chúng tương tác với các yếu tố kết dính, tiếp tục ức chế sự lây lan của ung thư và sự phát triển của khối u. Enzyme làm giảm các gốc tự do bằng cách thúc đẩy các enzyme có đặc tính chống oxy hóa. Điều này rất quan trọng vì các gốc tự do có thể bắt đầu biểu hiện gen sinh ung.

Liệu pháp Enzyme và Điều trị Ung thư

Vào năm 1906, nhà phôi học người Scotland, Tiến sĩ John Beard, đã gợi ý rằng các enzym phân giải protein của tuyến tụy có tác dụng chống ung thư và đại diện cho sự bảo vệ chính của cơ thể chống lại bệnh ung thư. Ông đã phát hiện ra rằng từ ba tháng đầu của thai kỳ, mô nhau thai hoặc nguyên bào nuôi có tất cả các đặc điểm chức năng và hình thái của mô ác tính, mức độ tăng sinh cao, tăng sản và khả năng gửi nguyên bào nuôi đến hệ tuần hoàn chung của cơ thể, bao gồm cả tuần hoàn thai nhi. .

Bác sĩ ung thư hội chẩn.Tiến sĩ Beard cũng phát hiện ra rằng khi tuyến tụy của thai nhi bắt đầu hoạt động (sau ba tháng tuổi thai), các mô nhau thai mất đi các đặc tính của bệnh ác tính. Ông cho rằng điều này là do sự hiện diện của nồng độ cao các enzym tuyến tụy.

Năm 1911, Tiến sĩ Beard đã xuất bản một chuyên khảo có tựa đề “Liệu pháp Enzyme của Ung thư” tóm tắt liệu pháp của ông. Một số báo cáo trường hợp trong hai thập kỷ đầu của thế kỷ 20 đã ghi nhận sự thoái triển và thậm chí thuyên giảm của khối u ở những bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối được điều trị bằng enzym tuyến tụy. Người ta thấy rằng các enzym phân giải protein từ phức hợp enzym tuyến tụy là những enzym gây ra tác dụng chống khối u.

Liệu pháp enzym với các enzym phân giải protein đã là một thành phần quan trọng trong chiến lược toàn diện của Issels về điều trị ung thư, bệnh thoái hóa mãn tính và rối loạn miễn dịch kể từ đầu những năm 1950.

Liều dung: 100 viên/ ngày

Bạn nên sử dụng loại Enzyme nào?

Thực tế là bạn sẽ được hưởng lợi từ bất kỳ chất bổ sung men tiêu hóa tốt nào từ người ăn chay. Nhưng hãy tìm một cái có chứa:

• Nhiều loại protease - để tiêu hóa protein.

• Carbohydrase (bao gồm amylase) - để tiêu hóa tinh bột và carbohydrate.

• Lipase - để tiêu hóa chất béo.

• Cellulase - vô giá trong việc phân hủy cellulose sợi thành các đơn vị nhỏ hơn.

• Lactase - hoạt động trong quá trình tiêu hóa các sản phẩm từ sữa.

Các enzym tuyến tụy là một phần của chất được gọi là pancreatin (hoặc dịch tụy) được sản xuất trong tuyến tụy. Phức hợp này bao gồm các enzym protease, amylase và lipase và được giải phóng cả vào ruột và máu.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét